Thời tiết (Bạc Liêu)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    5 khách và 0 thành viên

    Báo mới

    Danh lam thắng cảnh

    Tài nguyên dạy học

    Lời hay ý đẹp

    "

    Truyện cười

    Xem truyện cười

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Phạm Văn Hùng ĐT 0945306099)

    .

    THƯ VIỆN VIOLET

    violet.jpg
    tlviolet.jpg
    baigiang.jpg
    giaoan.jpg
    dethi.jpg
    “lophoc.jpg
    “daotao.jpg

    Bộ sưu tập hoa lan

    Từ điển trực tuyến


    Tra theo từ điển:



    Lịch phát sóng VTV3

    Ảnh ngẫu nhiên

    Ban_truong_lan_2_copy.jpg Baner_luugiu_kyniem.swf Nhat_tu_vi_su.jpg Banner_cua_truong1.jpg Cau_doi.jpg DSC_0285_2.jpg Da_phuc.jpg Thay_oi_co_dt.swf Crazy.swf Tamsunangxuan.swf 535587_346776165442251_1103757000_n9.jpg Gio_hoc_sinh_dong.swf Nice.swf Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf HAPPYNEWYEAR2013.swf Hinh_nen_nam_moi_2013_11.jpg Bannertet2013.swf Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Thiep_bui_phan.swf 20114.swf

    Sắp xếp dữ liệu

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác
    Gốc > Lịch sử Việt Nam >

    Tiểu sử Hồ Chí Minh

    Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, một danh nhân vân hóa thế giới.

    Là người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

    Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

    Trong thời gian 1945 - 1969, Bác Hồ là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ 1951 -1969, là Chủ tịch Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

    Bác là nhà lãnh đạo được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng. Lăng của Bác được xây ở Hà Nội, nhiều tượng đài của Bác được đặt ở khắp mọi miền Việt Nam. Hình ảnh của Bác được nhiều người dân treo trong nhà, đặt trên bàn thờ hay được thờ cúng ở một số đền thờ và chùa và được in ở hầu hết mệnh giá đồng tiền Việt Nam.

    Bác Hồ đồng thời cũng là một nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng cả tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp.

    Hồ Chí Minh
    Ho Chi Minh 1946 cropped.jpg

    Tiểu sử và sự nghiệp

    Xuất thân và quê quán

    Theo gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thì:

    "Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ hai là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ ba là Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ tư là Nguyễn Văn Dân,... tổ đời thứ năm, Nguyễn Sinh Vật là giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông) năm thứ ba..., tổ đời thứ sáu là Nguyễn Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội.., tổ đời thứ 10 là Nguyễn Sinh Nhậm)." Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không rõ năm sinh, năm mất.

    Bác tên thật là Nguyễn Sinh Cung ( giọng địa phương phát âm là Côông), tự là Tất Thành, sinh ngày 19/5/1890 - mất ngày 2/9/1969.

    Bác được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên Nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm 1895. Quê nội là làng Kim Liên (tên Nôm là làng Sen). Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn.

    Quê nội của Bác Hồ là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn có tên là làng Đai Khố. Vào đời của Bác, phần lớn dòng họ của Bác đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp.

    Cha của Bác là cụ ông Nguyễn Sinh Sắc (1862 - 1929), từng đỗ Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu.

    Mẹ là cụ bà Hoàng Thị Loan (1868 -1901).

    Chị là bà Nguyễn Thị Thanh (1884 -1954).

    Anh là ông Nguyễn Sinh Khiêm (1888 -1950) tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm.

    Và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Xin (cuối năm 1900 - 1901).

    Tuổi trẻ

    Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), Bác về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây Bác bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành.

    Từ thưở niên thiếu, Nguyễn Tất Thành đã theo học chữ Hán với rất nhiều thầy giáo, nhưng người thầy đầu tiên của Người chính là cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Người. Ở quê nhà, Người còn theo học các thầy Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và Trần Thân từ 1901 - 1905.

    Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Đông Ba (niên khoá 1906 - 1907 lớp nhì, 1907 - 1908 lớp nhất). Trong kỳ thi Primaire (tương đương tốt nghiệp tiểu học) năm 1908 - Nguyễn Tất Thành là một trong 10 học trò giỏi nhất của trường Đông Ba được thi vượt cấp vào hệ Thành chung trường Quốc học Huế. Tháng 9/1907, Nguyễn Tất Thành vào học lớp Trung học đệ nhị niên tại trường Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5/1908 vì tham gia phong trào biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên. Cụ Nguyễn Sinh Sắc bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Nguyễn Tất Thành quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình.

    Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào đến Phan Thiết. Tại trường Dục Thanh, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã dạy môn chữ Hán và môn thể dục.

    Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, khâm phục Đề Thám, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả. Vì Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương", còn Phan Bội Châu thì hy vọng đế quốc Nhật Bản giúp đỡ để chống Pháp, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau". Nguyễn Tất Thành thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình.

    Khoảng trước tháng 2/1911, Nguyễn Tất Thành nghỉ dạy và vào Sài Gòn cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành. Tại đây, Bác theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là trường Cao Đẳng kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và tìm hiểu đời sống công nhân. Học được 3 tháng, sau đó Bác quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây và tìm chính sách để cứu nước.

    Hoạt động ở nước ngoài

    Thời kỳ 1911-1919

    Ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Ngày 6/7/1911, sau hơn 1 tháng từ lúc ra đi tìm được cứu nước, tàu cập cảng Marseilles - Pháp. Ở Pháp một thời gian rồi Bác qua Hoa Kỳ. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912 - cuối 1913), Bác đến nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi rửa chén cho khách sạn. Cuối năm 1917, Bác trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.

    Thời kỳ ở Pháp

    Ngày 18/6/1919, Bác Hồ lần đầu tiên sử dụng tên gọi Nguyễn Ái Quốc khi kí tên thay mặt "Hội những người Việt Nam yêu nước" tại Pháp, gửi tới Hội nghị Vécxay bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, đòi chính phủ Pháp công nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

    Năm 1920, lần đầu tiên Bác đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất những vấn đề về dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin" đăng trên báo Nhân Đạo số ra ngày 16 - 17/7/1920. Từ đó Bác đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc.

    Trong bài thơ Người đi tìm hình của nước của nhà thơ Chế Lan Viên có đoạn thơ nói về sự kiện này:
    "Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

    Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
    Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin
    Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
    Cơm áo là đây, hạnh phúc đây rồi"...

     
    Tấm biển đồng gắn tại nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17 Paris: "Tại đây, từ năm 1921-1923, Nguyễn Ái Quốc đã sống và chiến đấu vì quyền độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức"

    Bác tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (25 - 30/12/1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những người sáng lập ra ĐCS Pháp. Năm 1921, Bác cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp thuộc đại nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Năm 1922, Bác cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp bằng tiếng Phápdo Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.

    Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria, đời sống người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp

    Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ nhất

     
    Nguyễn Ái Quốc (Liên Xô-1923)

    Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskova học tập tại trưởng Phương Đông. Tại đây Nguyễn Ái Quốc đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 - 15/10/1923), được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Đệ tam Quốc tế (17/6 - 8/7/1924), Nguyễn Ái Quốc được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.

    Năm 1924, tại thành phố Moskva, ông viết và nộp cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế một bản Báo cáo về tình hình Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhận thấy phong trào đấu tranh giai cấp tại Việt Nam có sự khác biệt với phong trào đấu tranh giai cấp bên Tây phương đương thời, ông có nhận xét về các tầng lớp địa chủ, tăng lữ,... của Việt Nam như sau:

         
     
     

    "Những địa chủ ở đây chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ (…). Không có vốn liếng gì lớn…, đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa”,“An Nam chưa bao giờ có tăng lữ…”.

    —Nguyễn Ái Quốc

     

    Thời kỳ ở Trung Quốc (1924-1927)

    Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn.

    Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng Đồng chí hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc tập hợp các bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, được xuất bản năm 1927.

    Những năm 1928, 1929

    Mùa thu 1928, ông từ Châu Âu đến Xiêm La, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều tại Xiêm.

    Cuối năm 1929, ông rời khỏi Vương quốc Xiêm La và sang Trung Quốc.

    Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

    Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long - Hương Cảng, Nguyễn Ái Quốc thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam").

    Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Xiêm La trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.

    Những năm 1931 - 1933

    Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ L'Humanité số ra ngày 9/8/1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby, Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Nguyễn Ái Quốc đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.

    Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ hai

    Đến Moskva vào mùa xuân 1934, với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lênin (1934 -1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Đệ Tam Quốc tế (25/7 - 20/8/1935) với vai trò quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov. Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do. Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Đệ Tam Quốc tế

    Trong một bức thư kể cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế hay về phong trào cách mạng vô sản tại Đông Dương được viết vào tháng 3 năm 1935, Nguyễn Ái Quốc bị phê phán nặng nề. Bức thư này có ghi nhận về “tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nhgia4 duy tâm của đảng của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc”. Trong thư này cũng có đoạn: “Những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”.

    Sở dĩ có việc phê phán này là do vào thời điểm đó, Quốc tế Cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Stalin, đặt trọng tâm vào việc đấu tranh giai cấp để đi đến xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản và không quan tâm nhiều đến các vấn đề giải phóng thuộc địa. Trong khi đó, Nguyễn Ái Quốc lại đề cao chủ nghĩa dân tộc và vấn đề giải phóng thuộc địa, ông cho rằng:

    "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917.

    —Nguyễn Ái Quốc

    Từ năm 1938 đến đầu năm 1941

    Năm 1938, Nguyễn Ái Quốc trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của ĐCS Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938.

    Trở về Việt Nam

    Sau 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước cho dân tộc, ngày 28/1/1941 Bác Hồ đã lên đường trở về Tổ quốc. Tại cột mốc số 108 trên biên giới Việt - Trung, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Người đã đứng lặng hồi lâu xúc động.Trong thời gian đầu mới về nước, Bác Hồ lấy bí danh là Già Thu, sống tại hang Cốc Bó, làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Trong thời gian này, Người đã dịch cuốn "Lịch sử ĐCS Nga" (tóm tắt) dịch ra tiếng Việt để làm tư liệu giảng dạy cho cán bộ đảng viên. Cũng trong thời gian này, Người đã sáng tác rất nhiều bài thơ, trong đó có 2 bài thơ nổi tiếng là:

    Tức cảnh Pác Bó
    Sáng ra bờ suối tối vào hang
    Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
    Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
    Cuộc đời cách mạng thật là sang

    Pác Bó hùng vĩ
    Non xa xa, nước xa xa
    Nào phải thênh thang mới gọi là
    Đây suối Lê-nin, kia suối Mac
    Hai tay xây dựng một sơn hà


     

     

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thy Hạ @ 00:17 11/10/2012
    Số lượt xem: 4066
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    "Dân ta phải biết sử ta
    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
    Kể năm hơn bốn nghìn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa"

    Avatar

    hy ta yêu tổ quốc

    No_avatarf

     Hay lúm, cảm ơn pạn nhaNgạc nhiên

    Avatar

    Xấu hổ hihihihi, có gì đâu mak phải cảm ơn.......mình mí là người phải gửi lời cám ơn đến các bạn đây nek, cám ơn vì tất cảNháy mắt

    Avatar

      Cảm ơn vì tất cả. hihi, câu này phải để thầy nói mới đúng chứ?Lè lưỡi

    Avatar

    troy oy??? thầy lạ ah nghen....có câu đó cũng giành với em nữa??? hok chịu, câu đó em nói trước là của em.....thầy phải mua bản quyến mí dc nói ahLưỡng lự

    Avatar

       Thầy kiếm câu khác vậy, không mua bản quyền đâu,để đêm này nằm nghĩ đã, hjhj

    Avatar

    hahahaah, thầy dễ bị "khủng bố" wa.....nói zi mak cũng chịuLè lưỡi

     
    Gửi ý kiến

    Click vào đôi chim để về đầu trang

    Click vào đôi chim để về đầu trang